Rẻ
quạt trong Đông y có tên thuốc là xạ can, trị đau hầu họng rất tốt. Không chỉ
thế, nó còn có tác dụng trừ đờm, dịu ho, điều trị khuẩn đường hô hấp trên.
Rẻ quạt có tên
khoa học Belamcanda sinensis (L.) DC, họ lay ơn. Đây là 1 loại cây mọc hoang
sống lâu năm; thân rễ mọc bò. Lá mọc thẳng đứng, bẹ lá xếp vào nhau xòe ra như
cái quạt. Lá hình mác dài 20-40 cm, rộng một,5-2 cm. Hoa có cán dài 20-40 cm,
chia thành rất dài cành, mỗi cành mang 1 bó hoa. Hoa có 6 cánh màu vàng cam đỏ
điểm đốm tía. Quả nang hình trứng. Hạt hình cầu xanh đen bóng, đường kính 5 mm.
Thân rễ được gọi
là củ rẻ quạt; thu hoạch vào mùa đông, cắt bỏ rễ con, rửa sạch rồi phơi sấy khô
làm thuốc.
Cao cồn xạ can
có tác dụng ức chế những loại virus trực vi trùng lỵ, tụ cầu vàng, cầu siêu vi
ruột. Xạ can có tác dụng kháng viêm cấp tính và mãn tính. Flavonoid toàn phần
của xạ can làm giảm hoạt độ của men polyphenol oxydase và một số men có chức
năng trong nhiễm trùng cấp và mãn tính.
Đông y xếp xạ
can vào loại thuốc thanh nhiệt giải độc. Xạ can vị đắng, tính hàn, vào các kinh
phế, can, có tác dụng trị đau hầu họng, trừ đờm, dịu ho. Xạ can hơi có độc. cơ
thể có tì vị hư hàn, trẻ em dưới 7 tuổi, phái yếu mang thai không được sử dụng,
dưới đây là những bài thuốc có xạ can là chủ vị:
Trị viêm nhiễm
yết hầu cấp: Xạ can 10 g, cát cánh 10 g, hoàng cầm 10 g, cam thảo bắc 6 g. Làm
thành bột thô. Sắc nước uống.
Trị viêm nhiễm
đường hô hấp trên, viêm họng, nhiễm khuẩn amiđan cấp và mãn tính, áp dụng một
trong một số bài sau:
- Xạ can 10 g,
sâm đại hành 10 g. Sắc nước uống.
- Xạ can 10 g,
cát cánh 10 g, trần bì 6 g. Làm bột thô rồi sắc nước uống.
Liều sử dụng cho
trẻ trên 7 tới 12 tuổi bằng nửa liều thân thể lớn cho một số bài thuốc trên. Từ
13 tuổi trở lên như liều thân thể to.
Trị ho hen, ho
bởi lạnh: Xạ can 10 g, bán hạ 10 g, tử uyển 10 g, khoản đông hoa 10 g, đại táo
10 g, sinh khương 10 g, ma hoàng 7 g, ngũ vị tử 3 g, tế tân 3 g. Sắc nước uống.

ConversionConversion EmoticonEmoticon